Kinh tế Việt Nam tăng 7,02% trong năm 2019, mức tăng cao nhất cùng giai đoạn 9 năm gần đây, vượt xa dự báo của các tổ chức quốc tế, như ADB tính toán 6,9%, World Bank 6,8%,…

Tuy nhiên, kết quả tích cực này không đồng nghĩa với sự cam kết chắc chắn cho năm sau, bởi những thách thức xuất hiện ngày một rõ hơn.

I. Tổng quan

Kinh tế – xã hội nước ta năm 2019 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại. Căng thẳng thương mại giữa Mỹ – Trung và vấn đề địa vị chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu tư và thương mại toàn cầu.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02% vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8% (Quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%; quý III tăng 7,48%; quý IV tăng 6,97%- thấp – thấp hơn giai đoạn 2017 – 2018). Đây là năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt trên 7% kể từ năm 2011.

Lạm phát bình quân trong 9 tháng đầu năm ở mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua là điểm sáng trong việc điều hành và quản lý chính sách tiền tệ của NHNN.

Lạm phát cơ bản cũng đã ổn định hơn khi tác động gián tiếp của việc tăng giá điện vào tháng 3 đã mờ nhạt dần. Chỉ số CPI trong 3 tháng cuối năm sẽ không có nhiều biến động mạnh và lạm phát bình quân cho cả năm 2019 được dự báo là 2.6%, trong khi lạm phát cơ bản bình quân là 1.9% YoY.

Chính sách tiền tệ được NHNN điều hành thận trọng hơn trong 9 tháng đầu năm trong bối cảnh tăng trưởng cung tiền và M2 đều ở mức thấp hơn so với cùng kỳ.

Việc mua ngoại tệ nhằm bổ sung dự trữ của NHNN xuyên suốt 9 tháng đã giúp cho thanh khoản trong hệ thống dồi dào. Dự báo tăng trưởng M2 và tín dụng trong cả năm 2019 lần lượt ở mức 13% và 14%.

Tỷ giá USD/VND có những biến động trái ngược với quá khứ – hầu như đi ngang trong 9 tháng trong bối cảnh yếu tố ngoại biên bất lợi như chỉ số DXY ở mức cao và USD/CNY vượt qua ngưỡng 7.0. Tỷ giá trong Quý IV được nhìn nhận sẽ tiếp tục ổn định với mức mất giá so với cuối năm 2018 là 0.5 – 1.0%.

II.Tăng trưởng GDP 9 tháng – mức tăng cao nhất trong 9 năm

Tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm đạt 6.98%, mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Nếu tính riêng theo Quý, tăng trưởng GDP Quý III đạt 7.31%, ở mức cao thứ 2 trong vòng 7 năm nay (chỉ sau tăng trưởng GDP Quý III năm 2017). Trong 9 tháng đầu năm, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng duy trì mức tăng khá, +9.36%, tiếp tục duy trì đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung (đóng góp 4.9% điểm phần trăm).

 Trong đó, nhóm ngành chế biến chế tạo là động lực tăng trưởng chính với mức tăng trưởng đạt 11.37% – mức tăng trưởng 2 chữ số trong 14 Quý liên tiếp. Các yếu tố hỗ trợ nhóm ngành này bao gồm:

1. Samsung ra mắt dòng sản phẩm cao cấp vào tháng 3 và tháng 8 khiến tăng trưởng XK các thiết bị điện tử tăng kể từ tháng 2/2019 (9 tháng +7.1%).

2. Tăng trưởng XK nhóm dệt may, giày dép và đồ gỗ luôn duy trì ở mức cao.

3. Nghi Sơn và Formosa lần lượt chính thức hoạt động hết công suất kể từ Quý II/2018 giúp tăng trưởng ngành sản xuất kim loại và dầu mỏ tinh chế luôn ở mức 2 chữ số. Lĩnh vực dịch vụ trong 9 tháng tăng 6.85%, cao nhất trong vòng 3 năm qua với hoạt động bán buôn và bán lẻ tăng tới 8.31%, cho thấy nhu cầu tiêu dùng nội địa vẫn cho tín hiệu khả quan. Lĩnh vực nông lâm thủy sản ngược lại, có 9 tháng đầu năm không mấy tích cực với mức tăng chỉ đạt 2.02%. Hiện tượng El Nino kéo dài đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản và thủy sản bị thu hẹp là 2 lí do chính khiến ngành nông nghiệp chậm lại.

III. Tăng trưởng GDP Quý IV

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2019 ước tính tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,62%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,92% và khu vực dịch vụ tăng 8,09%. Trên góc độ sử dụng GDP quý IV/2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,28%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 5,05%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,71%.

 GDP năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02% (Quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%; quý III tăng 7,48% ; quý IV tăng 6,97%), vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng nỗ lực thực hiện để đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2011-2017. .

Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,90%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng 7,3%, đóng góp 45%. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2019 duy trì mức tăng trưởng cao với 8,86%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt nền kinh tế tăng trưởng với mức tăng 11,29%, đóng góp 2,33 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng nhẹ ở mức 1,29% sau 3 năm sụt giảm liên tiếp, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành xây dựng duy trì đà tăng trưởng tích cực với tốc độ 9,1%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

IV. Lạm phát bình quân

Chỉ số CPI bình quân 9 tháng đầu năm tăng 2.5% YoY, mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua. Nếu tính theo Quý, chỉ số CPI có xu hướng giảm với CPI trong Quý III tăng 2.23%, thấp hơn tương đối so với mức tăng các Quý trước đó (Quý I và II tăng khoảng 2.6%). Lạm phát cơ bản đã hạ nhiệt hơn, với bình quân 9 tháng đạt 1.88%.

Trong 3 Quý đầu năm, các yếu tố chính tác động tới CPI bao gồm:

  1. Nhóm thực phẩm (+4.21%, chủ yếu vào 5 tháng đầu năm trong đó giá thịt lợn tăng 8.04%, đóng góp 0.18% vào CPI);
  2. Giá điện điều chỉnh tăng vào tháng 3 (giá điện sinh hoạt +7.69%, đóng góp 0.18% vào CPI);
  3. Giá dịch vụ nhà nước, bao gồm giá dịch vụ y tế (+3.36%, đóng góp 0.13% CPI) và giá dịch vụ giáo dục (+6.73%, đóng góp 0.35% vào CPI);
  4. Giá xăng dầu giảm 3.46%, làm CPI giảm 0.14%). Lạm phát trong 3 tháng cuối năm theo chúng tôi đánh giá sẽ không có nhiều biến động bất thường. Các yếu tố hỗ trợ chính bao gồm:

– Dư địa để thịt lợn tăng giá mà không ảnh hưởng mạnh tới CPI còn khá nhiều do nền giá cao thời điểm cuối năm ngoái (khoảng 55,000 đồng/kg, so với mức khoảng 45,000 đồng/kg như hiện nay, mặc dù xu hướng tăng của giá thịt lợn thời gian gần đây là tương đối rõ nét.

 – Giá lương thực vẫn tiếp tục xu hướng giảm trong 3 tháng cuối năm, đặc biệt là giá gạo khi chưa xuất hiện nhân tố đột biến trong các hợp đồng xuất khẩu gạo. Thêm vào đó, Philippines – quốc giá nhập khẩu gạo nhiều nhất trong 8 tháng đầu năm hiện đang xem xét áp mức thuế tự vệ đối với gạọ.

 – Nhóm giao thông sẽ không phải là yếu tố đáng lo ngại trong 3 tháng cuối năm, nhờ quỹ Quỹ Bình ổn xăng dầu (BOG) dương trở lại, trên mức 1,000 tỷ đồng, trước diễn biến giảm của giá xăng dầu thời gian qua, tạo dư địa cho Chính phủ có thể can thiệp bình ổn giá xăng dầu nếu xuất hiện biến động mạnh. Bên cạnh đó, giá dầu thô Brent trung bình trong Quý IV theo dự báo tháng 9 của EIA vào khoảng $60/thùng, thấp hơn 11.7% so với cùng kỳ.

Ngược lại, yếu tố tiêu cực là giá dịch vụ nhà nước có thể tiếp tục được điều chỉnh tăng, trong đó có giá thu phí BOT và giá y tế. Cụ thể, vào cuối tháng 8, Bộ Y Tế đã đề xuất dự thảo tăng giá dịch vụ y tế.

Với mức tăng khoảng 5% (như dự thảo) sẽ làm CPI chung tăng khoảng 0.2%. Với điều kiện trên, chúng tôi dự báo lạm phát bình quân cho cả năm 2019 sẽ ở mức 2.6%, trong khi đó lạm phát cơ bản bình quân là 1.9%.

V. Chính sách tiền tệ 

Chênh lệch cung cầu tiền trong hệ thống (chênh lệch giữa tăng trưởng M2 và tăng trưởng tín dụng) có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Diễn biến này xuất phát từ:

1. NHNN quay lại thực hiện việc mua ngoại tệ nhằm bổ sung dự trữ ngoại hối trong Quý III, với tổng giá trị ước tính khoảng 2 tỷ USD (tương đương với bơm ra 46.4 nghìn tỷ VND)

2. Tăng trưởng tín dụng giảm mạnh trong Quý III (chỉ đạt 1.19% QoQ). Điều này cũng phản ánh mức độ dồi dào của thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, kéo theo đó là sự sụt giảm mạnh của lãi suất liên ngân hàng và lợi suất TPCP ở tất cả các kỳ hạn. Mặc dù vậy, với tính liên thông khá yếu, sự dồi dào thanh khoản ở thị trường liên ngân hàng hiện chưa giúp lãi suất huy động và lãi suất cho vay trên thị trường 1 giảm. Trên thực tế, lãi suất huy động bình quân sau khi giảm xuống mức thấp nhất trong giai đoạn 2016 – 2017 đã bắt đầu nhích tăng từ cuối năm 2018 do tác động của chính sách kiểm soát thanh khoản (giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn) và tỷ lệ an toàn vốn (nhằm thực hiện Basel 2). Lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn trong Quý III cũng có dấu hiệu tăng nhẹ ở một số ngân hàng nhỏ.

NHNN đã có những động thái mang tính thận trọng hơn nếu xét theo tăng trưởng tín dụng hay cung tiền so với cùng kỳ. Trong 6 tháng, tăng trưởng trung bình của cả M2 và tín dụng đều châm hơn so với cùng kỳ (đều thấp hơn khoảng 3%) và tiền cơ sở (M0) – bao gồm tiền mặt và dự trữ trong ngân hàng chỉ tăng khoảng 6% – so với mức tăng khoảng 20% vào năm 2018.

Nguồn tham khảo: KBSV Việt Nam, Tổng cục thống kê và Internet

Tình hình kinh tế – chính trị đầy biến động trong 1 năm vừa qua tuy khiến thế giới bất ổn nhưng cũng tạo ra những cơ hội phát triển không nhỏ dành cho các doanh nghiệp tại Việt Nam. Để nắm lấy những cơ hội to lớn này, nhà quản trị cần sẵn sàng thực chiến, triển khai nhiều ý tưởng táo bạo và quan trọng hơn hết là không ngừng học hỏi, phát triển bản thân. Đáp ứng nhu cầu học hỏi các kiến thức quản trị kinh doanh chuẩn quốc tế trong thời đại kinh tế hội nhập, Đại học Andrews – Hoa Kỳ mang đến Việt Nam một chương trình thạc sĩ Quản trị kinh doanh uy tín quốc tế.

Đến từ một trong những trường đại học lâu đời nhất nước Mỹ. Chất lượng của chương trình đã được kiểm định vùng bởi Ủy ban kiểm định Đại học và sau Đại học vùng Trung Bắc Hoa Kỳ (The Higher Learning Commission of North Central Association) trực thuộc Hội đồng kiểm định bậc cao (CHEA) và Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE). Từ năm 2015, chương trình MBA của đại học Andrews bắt đầu được triển khai  tại TP.HCM và Hà Nội cùng hai đối tác uy tín: Đại học Quốc gia TP.HCM và Đại học Kinh tế Quốc dân. Với nội dung chương trình nguyên gốc Mỹ được nâng cấp phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam và đội ngũ giảng viên hàng đầu từ trong và ngoài nước, đến nay MBA Andrews đã, đang đào tạo 12 khóa học viên và có những thành công đáng kể. Phần lớn các học viên, cựu học viên của MBA hiện đang đảm nhiệm những vị trí quản lý, nhà tư vấn cấp cao, giám đốc của các doanh nghiệp/ tổ chức ở cả trong nước và quốc tế.

Tải đầy đủ báo cáo tại link đăng kí bên dưới:

CƠ HỘI HỌC BỔNG HẤP DẪN TRONG KỲ TUYỂN SINH MỚI

Chương trình MBA Andrews – Hoa Kỳ dành tặng cơ hội học bổng lên tới 50% cùng nhiều ưu đãi đặc biệt cho các ứng viên trong kỳ tuyển sinh khóa 11 tại Hà Nội và TP.HCM. Tìm hiểu thêm thông tin về khóa học cùng các ưu đãi TẠI ĐÂY.