Có thể khẳng định xu thế dịch chuyển dòng vốn FDI đã và đang diễn ra, từ trước khi có đại dịch Covid-19. Hay nói cách khác, dịch Covid-19 là chất xúc tác khiến quá trình dịch chuyển này diễn ra nhanh hơn, quyết liệt hơn.

Bối cảnh dịch chuyển dòng vốn đầu tư

Kể từ năm 2018, căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước… khiến dòng vốn đầu tư trên thế giới sụt giảm (trên 10% năm 2018 và 2019), đồng thời có sự dịch chuyển mạnh giữa các khu vực và quốc gia. Trong xu thế đó, các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam đang nổi lên như là điểm đến tiềm năng cho sự phân bổ lại dòng vốn đầu tư, đặc biệt là xu hướng dịch chuyển dòng vốn từ Trung Quốc. 

Theo Nomura Group (2019), kể từ đầu năm 2018 đến tháng 8/2019, đã có 56 doanh nghiệp quốc tế rời Trung Quốc sang sản xuất tại các nước khác; trong đó, có 26 doanh nghiệp chọn Việt Nam, 11 sang Đài Loan, 11 sang Thái Lan, 3 sang Ấn Độ… Theo Công ty tư vấn đầu tư A.T Kearney (2019), Trung Quốc đã xuống hạng, từ thứ 3 (năm 2017) xuống thứ 7 (2019) trong số các địa điểm đầu tư FDI tốt nhất thế giới (là mức thấp nhất từ trước đến nay); phản ánh sự suy giảm sức hấp dẫn của Trung Quốc đối với các nhà đầu tư, do chi phí nhân công tăng nhanh, tác động của căng thẳng thương mại Mỹ – Trung và năm nay là đại dịch Covid-19…

Kể từ tháng 8/2019 đến nay, Ấn Độ và Indonesia đã đẩy mạnh việc thu hút các tập đoàn quốc tế đang có kế hoạch dịch chuyển khỏi Trung Quốc. Đến nay, đã có nhiều thông tin về việc các nhà đầu tư có kế hoạch dịch chuyển đầu tư tới Ấn Độ và các nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển sẽ không ngay lập tức, mà thường có lộ trình khoảng 2-5 năm, do các chuỗi cung ứng toàn cầu đã được hoàn thiện nên không thể nhanh chóng chuyển dịch. 

Ngoài ra, sự dịch chuyển này mang tính đa dạng hóa thị trường, chỉ chuyển dịch một phần chuỗi cung ứng chứ không phải là di dời toàn bộ khỏi Trung Quốc do đây vẫn là thị trường có quy mô rất lớn, vẫn là một điểm đến quan trọng do Trung Quốc có cơ sở hạ tầng, logistics, công nghiệp phụ trợ tốt, đội ngũ công nhân lành nghề, cũng như hệ sinh thái cung ứng công nghệ cao, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng của Mỹ, châu u… và quy mô sản xuất lớn.

Đối với Việt Nam, trong năm 2019, vốn FDI đăng ký từ Trung Quốc tăng 17% so với năm trước, cao hơn so với mức tăng chung là 7,2%, và là mức tăng cao nhất trong số các đối tác đầu tư lớn của Việt Nam (Hồng Kông tăng 9,1%, Singapore tăng 6,4%, Hàn Quốc tăng 3,7%, Nhật Bản tăng 2,12%).

Trong 5 tháng đầu năm 2020, một số tập đoàn đã lên kế hoạch dịch chuyển đầu tư đến Việt Nam. Cụ thể, theo Nikkei, Google có kế hoạch sản xuất smartphone giá rẻ (Pixel 4a) tại Việt Nam trong khi Microsoft dự định sản xuất notebook và máy tính để bàn trong quý II/2020 còn Apple sẽ sản xuất tai nghe không dây (AirPods) tại Việt Nam thay vì Trung Quốc (3-4 triệu đơn vị, tương đương 30% lượng sản phẩm AirPods). 

Hãng trò chơi điện tử Nintendo cũng đã chuyển một phần sản xuất máy chơi game Switch Lite sang Việt Nam…

Như vậy, có thể khẳng định xu thế dịch chuyển dòng vốn FDI đã và đang diễn ra, từ trước khi có đại dịch Covid-19. Hay nói cách khác, dịch Covid-19 là chất xúc tác khiến quá trình dịch chuyển này diễn ra nhanh hơn, quyết liệt hơn.

Dòng vốn dịch chuyển vào những lĩnh vực nào ? 

Trước đại dịch Covid-19, vốn FDI đầu tư vào Việt Nam, chủ yếu tập trung vào 3 lĩnh vực chính là: công nghiệp chế biến – chế tạo, kinh doanh bất động sản và bán buôn – bán lẻ – sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy (chiếm 81% tổng vốn đăng ký năm 2019)

Từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra, các nhà đầu tư nước ngoài đã và đang dịch chuyển đầu tư, chủ yếu trong các lĩnh vực:

 (i) công nghệ thông tin, công nghệ cao 

 (ii) thiết bị điện tử và phụ kiện

 (iii) logistics, thương mại điện tử 

(iv) hàng tiêu dùng, bán lẻ 

Lý do dịch chuyển: Nguồn vốn FDI dịch chuyển mạnh từ Trung Quốc và vùng lãnh thổ sang các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, chủ yếu do 5 nguyên nhân chính:

– Né tránh rủi ro chiến tranh thương mại – công nghệ: Căng thẳng thương mại và công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang khiến các nhà đầu tư có xu hướng tìm kiếm một địa chỉ đầu tư sản xuất (định hướng xuất khẩu) ổn định hơn, ít rủi ro hơn, đồng thời có thể tránh được việc áp thuế cao của Mỹ.

Tiếp tục đa dạng hóa chuỗi sản xuất: do các nước muốn giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc; do đó muốn tìm kiếm và dịch chuyển một phần sang địa điểm đầu tư mới, trong khi vẫn giữ và tận dụng các cơ sở đã đầu tư tại Trung Quốc, cũng như giảm thiểu tác động bởi những cú sốc khi xảy ra đứt gãy 1 khâu/mắt xích trong chuỗi.

Tận dụng cơ hội mới từ các thị trường tiềm năng (Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Philippines…): trong số các nước hưởng lợi từ sự dịch chuyển đầu tư, Việt Nam được đánh giá là một điểm sáng về thu hút đầu tư do môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, thị trường nội địa lớn, mức sống người dân ngày càng tăng; lợi thế tương đồng với Trung Quốc về văn hóa, chính trị, về vị trí địa lý, điểm giúp tiết giảm tối đa chi phí dịch chuyển sản xuất và vẫn duy trì mối liên hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất hiện có tại Trung Quốc; sự hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam về kinh tế, thương mại, đối ngoại, văn hóa, giáo dục, khoa học kĩ thuật….

Dịch Covid-19 thúc đẩy việc sắp xếp lại chuỗi sản xuất: dịch đã làm đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc lớn của chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu vào Trung Quốc.

 Do đó, các tập đoàn đa quốc gia muốn dịch chuyển đầu tư sang các nước châu Á khác như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines… Xu thế dịch chuyển dòng vốn FDI đã và đang diễn ra từ trước khi có đại dịch Covid-19; tuy nhiên, dịch Covid-19 là chất xúc tác khiến quá trình dịch chuyển này diễn ra nhanh hơn, quyết liệt hơn.

Để thu hút sự dịch chuyển vốn đầu tư các nước khác đang hành động như thế nào ?

Qua nghiên cứu các công bố chính sách thu hút FDI gần đây của 1 số nước trong khu vực; có thể thấy Chính phủ các nước đang chủ yếu dùng 5 công cụ:

(i) thuế (như Indonesia có kế hoạch giảm thuế TNDN từ 25% về mức 22% năm nay, sau đó xuống 20% ​​vào năm 2022, sớm hơn một năm so với kế hoạch trước đó; Malaysia, trong gói kích thích kinh tế được công bố vào ngày 5/6, đã có kế hoạch miễn thuế 15 năm cho các nhà sản xuất mới đầu tư trên 117 triệu USD vào nước này; Ấn Độ miễn thuế từ 4-10 năm cho các dự án đầu tư trong 1 số lĩnh vực ưu tiên; Thái Lan và Indonesia đưa ra ưu đãi thuế cho các dự án đầu tư và lĩnh vực sản xuất thiết bị y tế và dược phẩm…v.v.)

(ii) đất đai (Indonesia cam kết dành 400 hecta cho các nhà đầu tư và dự kiến thành lập 19 khu công nghiệp từ nay đến năm 2024; Ấn Độ cam kết dành ra quỹ đất rộng 461,6 hecta nhằm thu hút doanh nghiệp dịch chuyển đầu tư và đã chọn ra 10 ngành chủ chốt để tập trung thúc đẩy sản xuất và chỉ thị đại sứ quán Ấn Độ ở các nước tiếp cận những công ty đang tìm nơi đầu tư, lập cơ sở sản xuất…)

(iii) cam kết giữa các nhà lãnh đạo cấp cao về cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh (như Indonesia, Việt Nam)

(iv) cung cấp gói hỗ trợ đào tạo công nhân lành nghề (Thái Lan)

(v) có biện pháp tăng rào cản nhằm ngăn chặn tình trạng thâu tóm trong 1 số lĩnh vực (Mỹ, Nhật, EU, Anh, Úc…).

Nhà đầu tư kỳ vọng điều gì?

Nhà đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng mong muốn nhiều; tuy nhiên, qua kết quả khảo sát của báo cáo môi trường kinh doanh 2020, báo cáo đầu tư tư nhân (Grant Thornton 2019), đa số đều mong muốn 6 yếu tố quan trọng sau: 

(i) Ổn định chính trị, môi trường pháp lý và kinh tế vĩ mô

(ii) Cơ chế, chính sách và thông tin (về đất đai, thuế, lao động, điều hành kinh tế vĩ mô…) cần đảm bảo tính nhất quán, ít thay đổi, có thể dự báo được và minh bạch (iii) Thủ tục hành chính đơn giản, gọn, ra quyết định nhanh chóng; từ đó có thể giảm chi phí không chính thức và chi phí cơ hội (mất cơ hội kinh doanh nếu hoàn tất thủ tục quá lâu) (iv) Cơ sở hạ tầng đồng bộ (khu công nghiệp, điện, nước, hạ tầng giao thông vận tải, thông tin, logistics…)

(v) Nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, quản lý cấp trung và nhân lực có tay nghề

(vi) Công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ trong nước phát triển hơn. Trong khi đó, yếu tố về chi phí nhân công, ưu đãi thuế cũng là những vấn đề quan trọng nhưng thứ tự ưu tiên thấp hơn.

Giải pháp dành cho Việt Nam trong xu hướng

Trong cuộc đua thu hút dòng vốn dịch chuyển này, để có thể thành công, rõ ràng là Việt Nam cần tạo ra sự khác biệt. 

Một là, tiếp tục kiểm soát tốt dịch bệnh, đây cũng là một lợi thế không phải nhiều nước có được. Đồng thời, quyết tâm thực hiện mục tiêu kép “phòng chống dịch hiệu quả và khôi phục hoạt động kinh tế – xã hội một cách nhanh nhất có thể”, phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2020 ở mức 3-4% và kiểm soát lạm phát dưới 4%.

Hai là, sớm xây dựng và công bố chính sách thu hút dịch chuyển dòng vốn đầu tư; trong đó, cần công bố rõ lĩnh vực ưu tiên và kể cả địa phương ưu tiên (gắn với quy hoạch tổng thể, tránh cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương). 

Đồng thời, cần có biện pháp phù hợp ngăn ngừa hình thức thâu tóm không lành mạnh, đầu tư chui hay núp bóng (gắn với yêu cầu an ninh, quốc phòng và bất động sản nhà ở….) trong bối cảnh hiện nay.

 Biện pháp này cần gắn chặt với các hoạt động Mergers (Sáp nhập) và Acquisitions (Mua lại) trên thị trường chứng khoán; trong đó, vấn đề quan trọng là tìm lời giải bài toán tối ưu – không thái quá, vẫn thu hút được đầu tư, song vẫn đảm bảo ngăn ngừa được các hành vi không lành mạnh, đòi hỏi năng lực và trách nhiệm của đội ngũ công vụ.

Ba là, đánh giá, rà soát toàn bộ các khu công nghiệp để có điều chỉnh linh hoạt về khu công nghiệp cần ưu tiên mở rộng hoặc xây mới, khu công nghiệp cần thu hẹp, thu hồi; thiết lập và sẵn sàng công bố danh sách các khu công nghiệp sẵn sàng về quỹ đất sạch, kết cấu hạ tầng…v.v.

Bốn là, rà soát, cập nhật, điều chỉnh phù hợp phân cấp phê duyệt đầu tư nước ngoài, tinh gọn quy trình, thủ tục gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính một cách thực chất; công bố quy trình cấp phép một cách công khai, minh bạch.

Năm là, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế số, mô hình kinh doanh mới gắn với công nghệ số (đây cũng là lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm).

Sáu là, cần sớm thiết kế chính sách, gói hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, có kỹ năng quản lý (với nguồn tài trợ theo một tỷ lệ nhất định từ cả Trung Ương và địa phương). 

Bảy là, cần duy trì ổn định môi trường vĩ mô và luôn đảm bảo tính nhất quán, tính ổn định và tính phù hợp của các cơ chế, chính sách, nhất là các chính sách về đất đai, thuế, lao động, điều hành kinh tế vĩ mô… để các nhà đầu tư đầu tư nước ngoài yên tâm, có thể xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam.

 Cùng với đó, cần có chiến lược dài hạn về cải thiện mạnh mẽ, thực chất môi trường đầu tư – kinh doanh; đảm bảo yếu tố công khai, minh bạch; thủ tục hành chính cần phải được tiếp tục đơn giản hóa, thuận tiện, nhanh chóng; trong đó, tâm lý thờ ơ, vô cảm, sợ trách nhiệm phải được loại bỏ…v.v.

Tám là, thúc đẩy phát triển nhanh hơn công nghiệp hỗ trợ, tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của khối doanh nghiệp trong nước, vừa để tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị, vừa để phục vụ, kết nối doanh nghiệp FDI.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng đồng bộ (khu công nghiệp, điện, nước, hạ tầng giao thông, thông tin, logistics, dịch vụ đi kèm khu công nghiệp…), tiếp tục coi đây là đột phá chiến lược. 

Đại dịch Covid-19 là chất xúc tác khiến quá trình dịch chuyển dòng vốn đầu tư và chuỗi cung ứng diễn ra nhanh hơn. Trong bối cảnh dòng vốn FDI dự báo giảm khoảng 40% năm 2020 (theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển), các nước trong khu vực, nhất là ASEAN đang có cuộc đua thu hút FDI.

 Việt Nam được đánh giá là có nhiều cơ hội, nhưng việc có tận dụng được cơ hội hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào tính chủ động, quyết liệt, tập trung vào những gì nhà đầu tư mong muốn “chính đáng”; trong đó, thể chế, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng vẫn là yếu tố then chốt, chứ không chỉ có chính sách ưu đãi và mời chào suông.

ƯU ĐÃI ĐẶC BIỆT KỶ NIỆM 5 NĂM MBA ANDREWS TẠI VIỆT NAM – CÁC SUẤT HỌC BỔNG LÊN TỚI 50%

Chi tiết xem tại đây